19:54 ICT Thứ sáu, 24/11/2017

Danh mục chính

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 0


Hôm nayHôm nay : 2545

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 83033

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5091251

Trang nhất » Tin Tức » Bài viết

SoGD

PHẦN III. Chữ “Tâm” trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du

Thứ bảy - 13/05/2017 09:34
PHẦN III. Chữ “Tâm” trong “Truyện Kiều”  của Nguyễn Du
 
          Mở đầu “Truyện Kiều” , Đại thi hào Nguyễn Du luận về “cõi người ta”, về chữ Tài chữ Mệnh:
                                       “Trăm năm trong cõi người ta, 
                              Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.
          Kết thúc truyện Cụ luận về mệnh Trời; luận thêm về chữ Tài chữ Mệnh và sau cùng là luận về chữ Tâm chữ Tài:
                                       “Ngẫm hay muôn sự tại trời,
                             Trời kia đã bắt làm người có thân.
                                       Bắt phong trần phải phong trần,
                             Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
                                       Có đâu thiên vị người nào,
                             Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai,
                                       Có tài mà cậy chi tài,
                             Chữ tài liền với chữ tai một vần.
                                       Đã mang lấy nghiệp vào thân,
                             Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

                                        Thiện căn ở tại lòng ta,
                              Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
          Chữ Tâm, có thể hiểu nôm na là “bụng dạ”, là “lòng người” hoặc văn chương hơn là “ tấm lòng”, là “tâm hồn”, là “lương tâm”, “nhân tâm” của con người. Chữ Tâm là một khái niệm trừu tượng mà luôn hiện hữu trong “lòng người” nhưng khó thấy. Người xưa nói “tri nhân, tri diện, bất tri tâm”.  Có nghĩa là biết người, biết mặt nhưng không biết được, khó biết được tâm tính là như vậy!
          Lòng người, theo cách nói dân gian:                                                                                                            
                                      "Sông sâu biển thẳm dễ dò,
                                Nào ai lấy thước mà đo lòng người”.
          Chữ Tâm của Phật giáo là từ bi, bác ái với “tứ vô lượng Tâm”, là “từ, bi, hỷ, xả”, bốn liều thuốc hoá giải, chống lại những ý nghĩ, những thái độ sai lầm của con người trong cuộc sống, trong cõi người, cõi đời này. “Tâm từ” là lòng yêu thương của con người, không vị kỷ, không thiên về xác thịt, ái dục. Đức Phật khuyên con người nên diệt trừ “ái dục” mà “sắc dục” là đáng lo ngại nhất: “Trong các thứ ái dục, không gì đáng ngại bằng sắc dục. Lòng ham thích sắc đẹp to lớn không gì sánh bằng. May thay, chỉ có mình nó mà thôi. Nếu có hai thứ như thế thì khắp thiên hạ không ai có thể tu Đạo được cả!”.
          Chữ Tâm theo nguyên lý của Nho giáo Trung Hoa, thời Tống, Nguyên là “tồn thiên lý, diệt nhân dục”. Theo Mạnh Tử, con người có hai thể: đại thể là Tâm, tiểu thể là nhĩ, mục, khẩu, tỵ (tai, mắt, miệng, mũi). Nếu con người sống theo đại thể, theo Tâm thì là đại nhân; còn sống theo nhu cầu của tai, mắt, miệng, mũi thì là tiểu nhân. Vì tai, mắt, mũi, miệng không biết suy nghĩ, còn Tâm thì biết suy nghĩ, biết phản tỉnh, cho nên biết nhân nghĩa, thị phi, liêm sỉ, biết từ nhượng, biết trắc ẩn, biết hổ thẹn, biết lễ nghĩa.  
          Chữ Tâm trong Truyện Kiều, theo Giáo sư Trần Đình Sử : “Chữ Tâm này khác với chữ Tâm  nhà Phật, nơi đó là chân như, trong suốt, tĩnh tại, vô sai biệt, là Phật tính. Cái Tâm của Nho gia là lòng trắc ẩn, biết đồng cảm thương người, ý thức thị phi, phải trái, biết lễ nghĩa, biết điều khinh trọng, biết sỉ nhục, hổ thẹn, biết trung dung”: “Mà trong lẽ phải có ngươi có ta”. Chữ Tâm trong Truyện Kiều có sự gặp gỡ của hai phương diện tương đồng đó của Nho gia và Phật gia. Nhưng chữ Tâm trong Truyện Kiều không đồng nhất với chữ Tâm nhà Phật, vì Nguyễn Du không diệt dục. Đã diệt dục thì không thể viết nên Truyện Kiều. (...) Truyện Kiều là truyện kể về một cái Tâm thế tục. (...) Bản thân Nguyễn Du cũng mang một chữ Tâm thế tục thì mới viết ra được Truyện Kiều”.
            Thật vậy, Truyện Kiều là “truyện thế tục”, truyện kể về các chuyện “ăn cơm mặc áo” của con người, là truyện kể về một cái Tâm thế tục, mang tính thế tục cao thượng, không đạo đức siêu hình mà cũng không tầm thường dung tục.
          Kiều chủ động hứa hôn với Kim Trọng, chủ động đến với Kim Trọng, chủ động thề nguyền vàng đá với chàng:
                                       “Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường,
                             Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa”.
          Kiều thất thân với Mã Giám Sinh, Nguyễn Du ngậm ngùi:
                                       “Tiếc thay một đóa trà my,
                                    Con ong đã tỏ đường đi lối về”. 
            Kiều ân hận, tự trách mình:
                                                “Phẩm tiên rơi đến tay hèn,
                                          Hoài công nắng giữ mưa gìn với ai.
                                                 Biết thân đến bước lạc loài,
                                         Nhị đào thà bẻ cho người tình chung”. 
          Ba cuộc tình của Kiều với Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải, mỗi cuộc tình một vẻ, một cung bậc cảm xúc nhưng đều say đắm, đắm say, rất đẹp, rất đời, rất con người. Nguyễn Du không những không để Kiều vướng mắc bởi “tam tòng tứ đức” mà còn để  cho nàng “chấp kinh phải biết tòng quyền”:  
                                       “Sao cho cốt nhục vẹn tuyền,
                             Trong khi ngộ biến tòng quyền, biết sao?
                                       Duyên hội ngộ đức cù lao,
                             Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn?
                                      Ðể lời thệ hải minh sơn,
                             Làm con trước phải đền ơn sinh thành”.
          “Chấp kinh”, nghĩa là giữ theo đạo thường, lệ thường mà làm nhưng trong quá trình thực hiện phải biết “tòng quyền”, nghĩa là phải linh hoạt vận dụng theo hoàn cảnh mà thay đổi cách xử sự cho phù hợp. Kinh Dịch có câu: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, nghĩa là lấy cái Tâm kiên trinh một mực (bất biến) của mình mà ứng phó với mọi điều biến chuyển ở ngoài. Như vậy, tức là giữ vững lập trường trong lúc biến.
            Trong Truyện Kiều, “tòng quyền”, phép quyền biến còn được vận dụng cả đến “cửa thiền”, khi Kiều“sự đời, đã tắt lửa lòng”. Đây là lời của Vương Ông:
                                       “Ông rằng: Bỉ thử nhất thì,
                             Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền”.
          Như trên đã nói, với nguyên lí, “tồn thiên lí, diệt nhân dục” lễ giáo phong kiến Trung Hoa xưa đã trói chặt con người, bóp nghẹt mọi nhu cầu sống tự nhiên của con người. Một trong những tư tưởng của thời ấy là “chết đói chuyện nhỏ, thất tiết chuyện lớn”. Một lần nữa, trong Truyện Kiều, Kim Trọng đã “biện hộ”, “chiêu tuyết” cho Thúy Kiều:
                                       “Chàng rằng khéo nói nên lời,
                             Mà trong lẽ phải có người có ta.
                                       Xưa nay trong đạo đàn bà,
                             Chữ trinh kia cũng có ba, bảy đường.
                                       Có khi biến, có khi thường,
                             Có quyền nào phải một đường chấp kinh.
                                       Như nàng lấy hiếu làm trinh,
                             Bụi nào cho đục được mình ấy vay.
                                       Trời còn để có hôm nay,
                             Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.
                                       Hoa tàn mà lại thêm tươi,
                             Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa” .
            Trước và sau đó, Thúy Kiều cũng đã hai lần nói đến sự trinh tiết,  ý thức đầy đủ về chữ “trinh”:
                                                “Chữ trinh đáng giá nghìn vàng ,
                             Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa”
                                       “Chữ trinh còn một chút này,
                             Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan!”
          Theo Tam Hợp đạo cô, người biết rõ quá khứ, hiện tại và tương lai của Thúy Kiều,  một lần nữa khẳng định, Kiều “ mắc điều tình ái” nhưng “khỏi điều tà dâm”. Đặc biệt là hành động “hiếu tâm”, bán mình chuộc cha làm cảm động cả Trời:
                             "Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều,
                    Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm.
                             Lấy tình thâm trả nghĩa thâm,
                    Bán mình đã động hiếu tâm đến trời !”

            Đúng là phải “đi qua”, phải “lội qua”, thậm chí phải “quăng quật” giữa cuộc đời thế tục,  phải “trải qua một cuộc bể dâu”, thì mới thấy “có trời mà cũng tại ta”, “mà trong lẽ phải có người có ta”.
            Truyện Kiều có tư tưởng Nho gia, về chữ “hiếu”, chữ “trung”:
                                       “Trên vì nước, dưới vì nhà,
                             Một là đắc hiếu hai là đắc trung”.    
           Một lần nữa, chữ Tâm lại “thấu đến Trời” cùng với  chữ “hiếu”, chữ “nhân”, với nỗi niềm “vì nước vì dân”, với “ âm công”, công đức, âm đức cứu người làm ngấm ngầm, không ai biết:
                                       “Tâm thành đã thấu đến trời,
                              Bán mình là hiếu cứu người là nhân.
                                       Một niềm vì nước vì dân,
                              Âm công cất một đồng cân đã già!”
          Cũng theo Nho gia, Tâm là cái “thần minh” của Trời ban cho người. “Con người là Tâm của thiên địa, đầu mối của ngũ hành”.  Vì vậy, Tâm của người với Tâm của Trời đều cùng một thể. Tâm của người có thể “động” đến Trời, “thấu” đến Trời là như vậy!

            Trong Truyện Kiều, có năm, bảy lần Nguyễn Du nói đến chữ Tâm. Đó là “tú khẩu, cẩm tâm” (miệng thêu, lòng gấm) khi Đạm Tiên xem thơ Kiều, nức nở khen thầm; là lời thề nguyền “đồng tâm” của Thúy Kiều với Kim Trọng; là sự “từ tâm”, là “lễ tâm” khi Lại già họ Chung “thương thầm xót vay” mà “ra sức giúp vì” trong vụ xử án, nói như ngôn ngữ hiện đại là “chạy án” cho hai cha con Vương Ông; là "lửa tâm càng dập, càng nồng", lửa lòng, “lửa ghen” hừng hực cháy trong lòng Hoạn Thư; là “hiếu tâm” và “tâm thành” khi Kiều bán mình chuộc cha. Trong các lần ấy, chữ Tâm đều đi kèm với một từ khác, để chỉ, để biểu thị một khái niệm có liên quan đến chữ Tâm. Chỉ có một lần duy nhất, ở cuối truyện, chữ Tâm được đứng riêng, đứng độc lập với nguyên nghĩa là “tấm lòng”, là “tâm thành” của con người mà cũng hết sức đa nghĩa là lương tâm, đạo đức; là nhân ái, vị tha; là khoan dung, nhân hậu; là cảm thông, sẻ chia; là đạo cao, đức trọng; là toàn tâm, toàn ý;...
            Đó là chữ Tâm, một triết lý nhân sinh mà Nguyễn Du muốn gửi gắm, muốn tâm sự  với mọi người trước khi khép lại kiệt tác Truyện Kiều:
                                       “Thiện căn ở tại lòng ta,
                             Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
          “Thiện căn ở tại lòng ta”, gốc rễ của “cái thiện” nằm ở trong lòng người, vốn bởi lòng người mà ra nên chữ Tâm phát xuất và đồng nhất với thiện tâm, tâm tính, bản chất thiện lương vốn có của con người “nhân chi sơ tính bản thiện” (con người sinh ra bản tính ban đầu vốn thiện và tốt lành). 
          Có người băn khoăn về câu thơ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Tại sao Tâm lại “bằng ba” Tài mà không là một con số nào khác?  Ở đây, có phép so sánh hơn, so sánh không ngang bằng: “bằng ba” (ba vừa là số nhiều, vừa có thể là do vần luật nữa).  Hãy hiểu đơn giản là Tâm quan trọng hơn Tài, tấm lòng quý giá hơn tài năng. Tâm là gốc, là nền nền móng, là căn cốt, cội rễ của nhân cách con người.
          Triết học Phương Đông nói về ba yếu tố quyết định mọi thành bại ở đời là      “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” và “ thuận cơ trời không bằng địa lợi, được địa lợi không bằng được lòng người”. Ở Phương Tây, “Đắc nhân tâm” của Dale Carnegie, nhà văn Mỹ, ra đời từ năm 1936, là quyển sách nổi tiếng nhất, bán chạy nhất và có tầm ảnh hưởng nhất của mọi thời đại. Tác phẩm được đánh giá là quyển sách đầu tiên và hay nhất, có ảnh hưởng làm thay đổi cuộc đời của hàng triệu người trên thế giới.
          ***
            LỜI BẠT
          Giá trị “Truyện Kiều” trên nhiều phương diện, đặc biệt là phương diện “nghệ thuật” là một vấn đề  được nhiều học giả trong và ngoài nước đã đánh giá, đã khẳng định.
          Ấy vậy mà, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, cũng có thời gian khá dài “chìm nổi”, “long đong”.
          Nguyễn Công Trứ  (1778-1858), một “Tham tán Quân vụ Đại thần”, một nhà Nho, một nhà thơ “đa tài, đa tình, đa đoan”, kém Nguyễn Du 13 tuổi (cũng có thể  coi là người cùng thời với Nguyễn Du), cùng quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh đã kịch liệt phê phán Thúy Kiều:
                                       “Bạc mệnh chẳng làm người tiết nghĩa
                                       Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm!
                                       Bán mình trong bấy nhiêu năm
                                        Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai!
                                       Nghĩ đời mà ngán cho đời !”
                                                 (Nguyễn Công Trứ, Vịnh Thúy Kiều)
          Ngày nay con cháu Cụ nghĩ khác, nhân loại nghĩ khác!
          Trong bài “Tựa Truyện Kiều”, viết năm 1820, của Tiên Phong Mộng Liên Đường Chủ Nhân – tức Nguyễn Đăng Tuyển (theo bản dịch của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim), đã bình luận: “Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn đứt ruột… Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trong thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy”.
          Giáo sư – Nhà giáo Nhân dân Lê Đình Kỵ , người được xem là “chuyên gia Truyện Kiều” đã có những trang văn nhận định thú vị: “Truyện Kiều nổi lên so với những giá trị văn học đương thời, và khiến sáng tác của Nguyễn Du gần với chúng ta ngày nay, về cả nội dung và hình thức nghệ thuật. Nhưng dù sao thì Nguyễn Du vẫn là người của thời đại mình, không thể thoát ly hoàn cảnh xã hội, lịch sử cụ thể, về cả hệ tư tưởng lẫn phương pháp nghệ thuật, thể hiện ở xu hướng lý tưởng hóa, ước lệ. Điều này khó tránh trong tình hình sáng tác chung, trong trình độ tư duy nghệ thuật chung đương thời… Trước sau Truyện Kiều vẫn là di sản vĩ đại, là tuyệt đỉnh của nền văn học dân tộc quá khứ. Quan điểm lịch sử cũng như đòi hỏi muôn đời của giá trị văn học đều cho phép ta khẳng định điều đó”.
            Vương Trọng, thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong chiến tranh chống Mỹ từ những năm 60 của thế kỷ XX (bạn bè thường nói vui, ông có họ với Vương Thúy Kiều) là người rất mê Truyện Kiều. Mê đến mức, lúc ông nhận nhiệm vụ vào Nam công tác (khi ấy vợ ông đang mang thai đứa con đầu lòng), ông đã ghi ra giấy và dặn, khi sinh là con trai thì đặt là Vương Liêu Dương (Liêu Dương là quê Kim Trọng), là con gái thì đặt là Vương Lam Kiều (Lam Kiều, một cây cầu bắc trên sông Lam, huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây. “Lam Kiều”, theo điển cố văn học, chỉ nơi người đẹp ở, nơi Tiên ở, nơi duyên tốt). Trong Truyện Kiều, Lam Kiều  được nhắc đến: “Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang”, “Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều”. Vậy là, Vương Trọng đã có người con trai đầu lòng là Vương Liêu Dương.
            “Bên mộ Cụ Nguyễn Du” là nén “tâm hương”, tiếng lòng của nhà thơ họ Vương , gửi “niềm tin cho cát bụi” mang theo một chút ngậm ngùi thân phận. Đạm Tiên, một kỹ nữ yểu mệnh. Mộ nàng ở nơi “cỏ áy bóng tà”, một nấm mồ vô chủ, không người hương khói:
                                      “Sè sè nấm đất bên đàng,
                             Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”.
            Ngờ đâu“phận bạc Đạm Tiên” còn vận vào sâu lắm, tới tận mộ phần của tác giả Truyện Kiều, Cụ Nguyễn Du, một vĩ nhân. Sau gần hai trăm năm Cụ vẫn yên nghỉ khiêm nhường, lặng lẽ  giữa nơi “chật chội mà mênh mông” “cùng thập loại chúng sinh”:
                                                “Tưởng rằng phận bạc Ðạm Tiên
                              Ngờ đâu Cụ Nguyễn Tiên Ðiền nằm đây
                                       Ngẩng trời cao, cúi đất dày 
                              Cắn môi, tay nắm bàn tay của mình
                                       Một vùng cồn bãi trống trênh
                                    Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề 
                                       ***
                                      Hút tầm chẳng cánh hoa lê 
                              Bạch đàn đôi ngọn gió về nỉ non
                                       Xạc xào lá cỏ héo hon
                              Bàn chân cát bụi, lối mòn nhỏ nhoi 
                                       Lặng im bên nấm mộ rồi 
                              Chưa tin mình đã đến nơi mình tìm!
                                       Không cành để gọi tiếng chim
                              Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời 
                                       Không vầng cỏ ấm tay người 
                              Nén hương tảo mộ cắm rồi lại xiêu 
                                       Thanh minh trong những câu Kiều
                             Rưng rưng con đọc với chiều Nghi Xuân
                                      ***
                                      Cúi đầu tưởng nhớ vĩ nhân 
                             Phong trần còn để phong trần riêng ai
                                       Bao giờ cây súng rời vai 
                             Nung vôi, chở đá tượng đài xây lên
                                      Trái tim lớn giữa thiên nhiên
                             Tình thương nối nhịp suốt nghìn năm xa...”
                                                    Nghi Xuân, 7- 3-1982
          Ngay sau khi ra đời, bài thơ đã gây tiếng vang lớn trong đời sống xã hội, mang lại hiệu quả thiết thực. Năm 1989 mộ phần của Đại thi hào đã được xây dựng khang trang, đẹp đẽ như bây giờ.
          “Tiếng thơ”, “tiếng thương”, “tình thương”, “trái tim lớn”... của Nguyễn Du là chuyện của “ngàn thu”, của “nghìn năm sau”, của “nghìn năm xa”.
          “ Bên mộ Cụ Nguyễn Du”, với chiều Nghi Xuân, với tiếng lòng của Vương Trọng:
                                      “Trái tim lớn giữa thiên nhiên
                             Tình thương nối nhịp suốt nghìn năm xa...”
          Một lần nữa, đồng vọng với “Kính gửi Cụ Nguyễn Du”, với đêm Nghi Xuân, lúc nửa đêm, với tiếng lòng của Tố Hữu:
                                       “Tiếng thơ ai động đất trời
                             Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
                                      Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
                             Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”.
            Hội Kiều học Việt Nam, một tổ chức dành cho những học giả và công chúng yêu mến kiệt tác Truyện Kiều của Đại thi hào đã ra đời từ tháng 7 năm 2011 và vừa long trọng tổ chức Đại hội nhiệm kỳ II ( 2017-2022)  vào ngày 13 tháng 1 năm 2017 tại Thủ đô Hà Nội.

          Mục đích của Hội là nghiên cứu, làm phát lộ giá trị, tinh hoa về văn học nghệ thuật, về văn hóa xã hội kết tinh, hội tụ trong Truyện Kiều, nhằm phổ cập rộng rãi những hiểu biết sâu sắc, mọi mặt về Truyện Kiều của các nhà nghiên cứu để nâng cao cảm thụ cái hay, cái đẹp, cái tinh túy của tác phẩm bất hủ này.

            Đọc Kiều, tôn vinh văn hóa đọc là góp phần tôn vinh Nguyễn Du, tôn vinh Truyện Kiều, bởi Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn” (Chế Lan Viên).
            Kết thúc chuyên mục, xin trân trọng cảm ơn các nhà giáo và bạn đọc yêu quý đã quan tâm, chia sẻ bài viết của chúng tôi!

                                                                                       Nghĩa Lợi, tháng 4 năm 2017
                                                                                              Nguyễn Văn Thụy
Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thành viên

Giới thiệu

Giới thiệu về giáo dục huyện Nghĩa Hưng

QUY ĐỊNH chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Nghĩa Hưng (theo Quyết định số 2056/2013/QĐ-UBND, ngày 28/5/2013 của UBND huyện Nghĩa Hưng)           Điều 1. Vị trí và chức năng     ...