09:59 +07 Thứ hai, 17/12/2018

Danh mục chính

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 47


Hôm nayHôm nay : 357

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 17316

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6162425

Trang nhất » Tin Tức » Bài viết

SoGD

PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”

Thứ hai - 22/09/2014 15:42
 Bài viết cùng tác giả
Suy nghĩ thêm về thông điệp "Học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc"


         Trong Kế hoạch chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học 2014-2015, cấp THCS của Phòng GD&ĐT huyện Nghĩa Hưng có nhiều nét đổi mới. Trong đó có:“Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, đặc biệt là phương pháp "Bàn tay nặn bột" nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh”.
          Tôi cũng biết “lơ mơ” về phương pháp “Bàn tay năn bột” . Nay mới  có dịp đọc lại,  xin được trao đổi cùng đồng nghiệp.
          Phương pháp “Bàn tay nặn bột” được khởi xướng bởi Giáo sư Georges Charpak, Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, người đã được nhận giải Nobel Vật lý năm 1992.
          Từ dịp khai giảng, vào tháng 9 năm 2000, Bộ quốc gia Giáo dục Pháp đã cho phép tất cả các trường tiểu học trong nước đổi mới việc giảng dạy khoa học theo tinh thần của phong trào “Bàn tay nặn bột”.
          “Bàn tay nặn bột” được hiểu là phương pháp tạo cho học sinh học tập tích cực, chủ động. Học sinh phải tự làm các thực nghiệm để tiếp thu các kiến thức khoa học để tiếp cận tri thức khoa học như một quá trình nghiên cứu của chính bản thân.
           Giáo sư Pierre LeNa, Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, Chủ tịch Tổ chức “Bàn tay nặn bột” Pháp cho biết: mục tiêu của chương trình “Bàn tay nặn bột” là giúp trẻ em trưởng thành và đứng vững với đôi chân của mình, bằng cách các em được thực hành với các ngành khoa học trong đó có khoa học tự nhiên, thực nghiệm và quan sát.
          Những ngành khoa học này bao quanh tư duy của học sinh, đặc biệt không có môn Toán vì Toán là môn logic trừu tượng. Giáo sư Pierre LeNa cũng khẳng định: phương pháp mới này giúp cho học sinh say mê hoàn toàn nhưng có lý trí.
          Năm 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo nước ta đã triển khai  thử nghiệm trên diện rộng ở hàng chục tỉnh: Dự án “PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” TRONG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ THCS” và đã chính thức triển khai đại trà ở cấp tiểu học và THCS từ năm học 2013 - 2014.
          Theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”, trong tiến trình dạy học, giáo viên hóa thân thành người bảo trợ khoa học, hướng dẫn học sinh thảo luận, đề xuất, nghiên cứu, thực hành để chiếm lĩnh tri thức. Giáo viên trang bị và làm quen dần cho học sinh phương pháp nghiên cứu khoa học. Đây là xu hướng phát triển tất yếu, cần thiết, góp phần rèn kỹ năng và phương pháp làm việc độc lập cho học sinh;.coi trọng tính sáng tạo và ý tưởng khoa học của học sinh, một kĩ năng sống cần thiết và cần được định hướng đúng.
          “Bàn tay nặn bột”, con đường nhận thức của người học đối với các môn khoa học tự nhiên nhất thiết phải nhờ thực nghiệm, bằng thực nghiệm. Học sinh không còn ngồi hàng giờ nghe thầy giáo, cô giáo giảng bài một cách thụ động mà cả lớp chia thành các nhóm nhỏ, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, cô giáo, tự mày mò thí nghiệm với các phương tiện thực hành. Một trong những hình thức, có thể là:
          Năm sáu em vây quanh một chậu thau nước để giữa lớp. Một em nói: “Cái gì nặng thì chìm”. Em khác phản bác lại: “Không hẳn thế”. Em lấy cục bột vo viên, đập bẹp ra trong lòng bàn tay rồi vén các bờ lên và thả xuống nước. Cục bột nổi như một chiếc thuyền thúng. Thế là em bé đã chứng minh được định lý về “sức đẩy Ác-si-mét” bằng thực nghiệm. Có lẽ thí nghiệm đơn giản này đã minh họa cho cái tên gọi của phong trào “Bàn tay nặn bột”.
         Nguyên lý giáo dục của Việt Nam ta là “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.
            Kiến nghị:
           1. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là  tích cực, là rất hay nhưng không phải cứ nói là làm được ngay trong một sớm, một chiều. Trước mắt vẫn còn những khó khăn:
            Một là, điều kiện, cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn: bàn ghế chưa thuận lợi cho việc tổ chức học nhóm;  phòng thí nghiệm, thiết bị dạy học chưa đảm bảo đầy đủ và mang tính khoa học, chính xác.
           Hai là. mọi phương pháp dạy học dù có hay đến đâu thì vai trò chủ đạo của nhà giáo vẫn là cực kỳ quan trọng. Vì vậy, để có thể triển khai rộng rãi và vững chắc, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường hiện nay, một trong những yêu cầu cấp thiết là tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao hiểu biết và năng lực vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”  cho các nhà giáo bậc tiểu học và cấp THCS.
           2. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Vậy nên phải tiếp tục đầu tư lâu dài. Kết quả của giáo dục không phải ngày một, ngày hai mà có được mà phải là cả một quá trình sau nhiều năm, nhiều thập kỷ.
          Vì vậy, nên chăng, trước mắt chỉ nên bắt đầu bằng cách bắt đầu của người Pháp: đổi mới việc giảng dạy khoa học theo tinh thần của phong trào “Bàn tay nặn bột”.

CÁC NHÀ GIÁO CÓ THỂ THAM KHẢO: 
Mười nguyên tắc cơ bản khi áp dụng “Bàn tay nặn bột” trong giảng dạy của giáo viên
Thứ nhất: Học sinh quan sát sự vật, hiện tượng trong thực tế gần gũi với các em để các em dễ cảm nhận, dễ thực nghiệm trên chúng.
Thứ hai: Trong quá trình tự thực nghiệm, học sinh đưa ra ý kiến, nêu thắc mắc, kết luận riêng và thảo luận trong tập thể (nhóm, cả lớp) từ đó rút ra kiến thức khoa học.
Thứ ba: Giáo viên chỉ thực hiện vai trò đề xuất, tổ chức các thực nghiệm cho học sinh theo một tiến trình sư phạm chặt chẽ. Giáo viên không làm sẵn cho học sinh.
Thứ tư: Áp dụng phương pháp này cần một thời lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài. Tính liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được bảo đảm suốt trong thời gian học tập.
Thứ năm: Mỗi học sinh có quyển vở thực hành riêng do chính các em ghi chép theo ngôn từ và cách thức của riêng mình.
Thứ sáu: Mục đích chính của phương pháp này là học sinh tiếp nhận được các khái niệm khoa học và kĩ thuật thực hành. Song song đó là củng cố ngôn ngữ viết và nói của các em.
Thứ bảy: Phụ huynh học sinh và tất cả mọi người xung quanh cần được khuyến khích hỗ trợ những điều mà học sinh, lớp học cần để thực nghiệm.
Thứ tám: Các đối tác khoa học (trường ĐH, CĐ, trường nghề, viện nghiên cứu…) ở địa phương cần giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình.
Thứ chín: Ngành giáo dục, trường sư phạm giúp giáo viên các kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy.
Thứ mười: Giáo viên cần chủ động tự học, tự tìm hiểu tài liệu, kiến thức liên quan; trao đổi với đồng nghiệp, các nhà khoa học… để nâng cao kiến thức. Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách.
                                                                        Nghĩa Lợi, ngày 22/9/2014
                                                                                           Nguyễn Văn Thụy
Tổng số điểm của bài viết là: 23 trong 6 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn