09:55 +07 Thứ hai, 17/12/2018

Danh mục chính

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 26


Hôm nayHôm nay : 324

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 17283

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6162392

Trang nhất » Tin Tức » Văn nghệ

SoGD

HOA VÀ “NGƯỜI TA LÀ HOA ĐẤT” - PHẦN IV: HOA TẦM XUÂN

Thứ ba - 22/03/2016 15:55
PHẦN IV: HOA TẦM XUÂN


 
          1. Truyền thuyết
          Ngày xưa, có hai em nhỏ mồ côi cha mẹ. Đứa lớn là trai và đứa bé là gái. Tuy còn nhỏ, hai em đã biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau.  Ngày ngày, cậu anh trai khi thì đi xin về nuôi em, khi thì vào rừng hái nấm, kiếm củi đem ra chợ bán hoặc đem đổi lấy gạo để nuôi em. Còn cô em là một cô bé tuyệt vời, rất hoạt bát, vui vẻ và tốt bụng.  Em nghe được tiếng chim và biết cùng chim trò chuyện. Từ sáng sớm, chim muông lũ lượt bay đến nhà và cùng em chuyện trò, ca hát.
          Tiếng hát của em làm say mê cả con quỷ độc ác trong một khu rừng gần đó.  Nó bèn giả làm bà già tốt bụng, ra khỏi rừng tìm đến nhà em bé.  Nó cho em bé trái cây, cho lũ chim hạt thóc.  Nó còn khôn khéo bày trò vui chơi cùng lũ chim và cô gái.  Vốn rất ngây thơ, em bé không đề phòng, thừa cơ con quỷ chộp lấy em và lũ chim mang tận vào rừng sâu.  Nó nhốt em bé với lũ chim trong một chiếc lồng lớn, rồi bắt em hát cho nó nghe.  Nhưng quá khiếp sợ, em bé không hát.
          Tức lắm, con quỷ gầm lên những tiếng kêu man rợ, rồi vùng dậy vừa gào thét, vừa đấm đá.  Chiếc lồng lăn long lóc làm cho thịt da em sây sát.  Nó liền phạt em bé và lũ chim bằng cách đem chiếc lồng treo lên một cành cây cao rồi bỏ đi, lòng đầy tức giận.
          Ở trên cành cây cao, cô bé tìm cách cứu bầy chim. Em cố chịu đau, luồn mấy ngón tay nhỏ xíu vào kẽ giữa những chiếc nan lồng.  Răng nghiến chặt, em cố kéo chiếc nan bị uốn cong mở ra một lối nhỏ.  Em giúp bầy chim thoát khỏi lồng bay ra, nhưng hai bàn tay em bị những chiếc nan lồng siết chặt làm giập nát, máu me đầm đìa.  Máu thấm đỏ cả mấy chiếc nan. Và rồi một điều kỳ lạ đã xảy ra.  Những chiếc nan dính máu như cựa mình và cứ thế dài mãi ra, buông mình xuống tận đất, thân mọc đầy những chiếc gai nhọn..
          Khi trở về nhà, người anh không thấy em gái đâu, cả đàn chim cũng mất.  Nhìn thấy cảnh nhà tan hoang, biết có sự chẳng lành, chú bé đi tìm em, miệng gọi Xuân ơi, Xuân ơi, không ngớt. Nhưng không một tiếng trả lời.  Em càng cuống quýt sợ hãi, càng chạy, càng gọi to. Em đi mãi, gọi mãi vượt qua mấy cánh đồng, lội qua mấy con suối, sau cùng đã tìm được người em khi đó đã trở thành bông hoa Xuân mất rồi. Từ đó người ta gọi loại hoa này là hoa Tầm Xuân.
 .          2. Tản mạn
          Dân gian đã viết về “nụ tầm xuân”:
                    “Trèo lên cây bưởi hái hoa
          `         Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
                    Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
                    Em đã có chồng anh tiếc lắm thay...”
          Nhiều nhà thơ hiện đại cũng đã viết về loài hoa này. Với “ Hoa tầm xuân”, Bế Kiến Quốc đã có cách dùng từ và gieo vần thật lạ:
                    “Tầm xuân hoa nở bên rào
                    Mưa phơn phớt ngõ, gió xao xuyến chiều
                    Ngày đang khuất, mắt trông theo
                    Cánh chim bé tẻo tèo teo cuối trời
                    Ngây ngây chút nhớ xa vời
                    Giơ bàn tay, với ra ngoài không gian
                    Chạm vào một nhánh tầm xuân
                    Vẫn xanh biếc nụ, dẫu ngần ấy quên
                    Lích cha lích chích vành khuyên
                    Mổ từng hạt nắng đọng nguyên sắc vàng
                    Thấy thương con nhện lang thang
                    Giăng tơ
                    Cứ tưởng thời gian mắc vào...”

            Còn với “ Nụ tầm xuân”, nhà thơ Xuân Sách, lại có một cái nhìn rất khác. Đó là một sự mâu thuẫn giữa các mặt đối lập:
                    “Làm gì có hoa nở ra xanh biếc
                    Cái nụ tầm xuân trong ca dao
                    Ấy là bởi lòng người hối tiếc
                    Nên nhìn hoa cũng đổi thay màu
                          ...
                    Em lấy chồng rồi thì anh lấy vợ
                    Điều đơn giản thế mà không nghĩ ra
                    Nhưng khốn nỗi tình đời rắc rối
                    Và trái tim vẫn cứ mù lòa
                    ...
                    Nếu trời cứ xanh và hoa cứ đỏ
                    Anh yêu em thì nên vợ nên chồng
                    Không có buồn vui thì không có nữa
                    Các nhà thơ gác bút chạy lông nhông
                    ...
                    Nụ tầm xuân cứ nở ra xanh biếc
                    Cho chúng ta một chút ngậm ngùi
                    Em có chồng rồi thì anh vẫn tiếc
                    Như bao luyến tiếc có trong đời”
          Hơn nửa thế kỷ trước, nhà thơ đất Kinh Bắc, Hoàng Cầm đã viết bài thơ “Lá diêu bông”. Đó là một  thứ lá của thế giới ảo trong thơ ca lãng mạn, là mâu thuẫn giữa ước mơ và hiện thực, là mong ước mà người đời lặn lội, kiếm tìm:
                   ‘Từ thuở ấy 
                   Em cầm chiếc lá 
                   Đi đầu non cuối bể 
                   Gió quê vi vút gọi 
                   Diêu bông hời...
                    ... Ới diêu bông... !”
          Với “Hoa tầm xuân” của Lưu Quang Vũ, lại thêm một lần giúp ta cảm nhận được “bi kịch của tình yêu” để rồi cứ “day dứt” lòng với mấy dòng thơ:
                    “Hoa tìm mùa xuân suốt đời chẳng gặp
                     Anh suốt đời chẳng gặp sắc tầm xuân”
     Ai đã đọc  tập thơ “Tầm xuân nhớ nắng”  của nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình, Giáo sư Hà Minh Đức sẽ bâng khuâng tự hỏi “Tầm xuân nhớ nắng” - hoa hay phận người? Bằng một tư duy thơ sáng tạo, với những trải nghiệm sâu sắc về đời sống, ông đã phát hiện được dấu hiệu độc đáo, rất riêng của một loài hoa dây leo, biết lấy “chơi vơi” làm điểm tựa và đồng thời khắc hoạ nên chân dung một con người đã tìm thấy ý nghĩa sự tồn tại của mình giữa cõi thế mênh mang.
     Chuyện “thương hoa tiếc ngọc” xưa nay vốn rất quen thuộc, một ẩn dụ nghệ thuật của thơ ca. Viết về phận hoa – kiếp người, nhà thơ đã gửi gắm, ký thác quan niệm sống và tư tưởng nhân sinh:
                        Sao không như kiếp hoa
                    Vào giữa lúc lụi tàn
                    Hương hoa bay lên trời
                    Muôn cánh hoa theo gió…
                    Chỉ để lại trên đời
                    Niềm thương nhớ khôn nguôi
                                                 (Hoa tàn)    
          Tầm xuân có thật ngoài đời đã đi vào văn chương làm cho lòng người thêm vương vấn, vấn vương, hát khúc yêu thương.
          Nhạc sỹ đa tài Dương Thụ hết sức tinh tế trong cảm xúc khi viết ca khúc “Đánh thức tầm xuân”. Ca từ đẹp như một bài thơ:
                   Một ngày mới, một ngày đang tới
                   Đóa tầm xuân vẫn ngủ trong hoang dại
                   Giọt sương trắng, giọt sương tan nắng
                   Thức dậy đi đóa tầm xuân thơ ngây của tôi!        
                   ...
                   Tầm xuân ơi...Tầm xuân ơi...
                    Em mãi đóa hoa đồng nội 
                    Tươi thắm trong nắng mặt trời
                   Em mãi mãi bờ cỏ dại   
                   Xanh mướt tháng năm trẻ dại
                   Em mãi tình yêu của tôi!...  
                   ...
          Một thời gian, không gian nghệ thuật đẹp và lạ; càng đẹp hơn, lạ hơn bởi những cái “quên”, có cả  cái quên của sự ngừng lại, đọng lại; có cả cái quên cho sự tiếp diễn, tiếp tục... tưởng như vô tình:
                   ... Ngày xanh ơi... Ngày xanh ơi...
                   Mây trắng quên bay về trời
                   Chim hót quên không ngừng lời
                   Cơn gió quên không ngừng thổi
                   Đêm tối quên không trở lại
                   Mãi mãi tình yêu của tôi”
          Và cái “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc” trong ca dao, dù được hiểu thế nào đi chăng nữa, vẫn mãi mãi là một hình tượng nghệ thuật đặc sắc, sắc đẹp “xuân thì” của một “dáng tầm xuân”, một “dáng kiều thơm”!
          Ta sẽ sống nhẹ lòng hơn khi chợt nhận ra quy luật của đời người, quy luật của đời sống tình cảm, đời sống tâm hồn con người từ những điểu tưởng như phức tạp mà lại giản đơn; tưởng như mơ hồ mà lại có thật; tưởng như xa lạ mà lại gần gũi và hết sức nhân văn như vậy!!!

                                                                                        Ngày 15 tháng 3 năm 2016
                                                                                             Nguyễn Văn Thụy
Tổng số điểm của bài viết là: 14 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn