07:05 +07 Thứ tư, 21/11/2018

Danh mục chính

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 48


Hôm nayHôm nay : 585

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 28065

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6133250

Trang nhất » Tin Tức » Văn nghệ

SoGD

HOA VÀ “NGƯỜI TA LÀ HOA ĐẤT” - Phần VII: Hoa gạo

Thứ tư - 04/05/2016 16:46
Tản mạn về các loài hoa
         1. Truyền thuyết
          Ở một bản nọ có chàng trai nghèo khoẻ mạnh, yêu cô sơn nữ xinh đẹp. Họ chuẩn bị cưới thì trời đổ mưa, cơn lũ lớn cuốn phăng ngôi nhà và lễ vật của chàng. Dân bản trồng cây nêu để chàng lên trời hỏi sự tình. Ngày ra đi, chàng buộc vào tay cô gái băng vải đỏ, mỗi đầu có tua năm cánh thay cho lời thề thuỷ chung.
          Gặp Ngọc Hoàng, chàng thưa: “Trần gian mưa nắng thất thường, cuộc sống con người rất cực khổ. Xin người xem xét lại”.
          Ngọc Hoàng hỏi xem ai trông coi mưa nắng, một vị thần tâu: “Đó là thần Sấm, nhưng thần vốn ham vui nên có lúc sao nhãng”.
          Thần Sấm thưa: “Một mình thần làm không xuể. Xin người giữ chàng trai này lại giúp thần làm mưa”. Ngọc Hoàng chuẩn tấu và truyền nâng bầu trời xa mặt đất để người hạ giới không lên được nữa. Chàng trai đành ở lại làm thần Mưa. Nhớ người yêu, nước mắt chàng trào ra.
          Nói về cô gái, ngày nào cô cũng trèo lên cây nêu trông ngóng. Một ngày tháng Ba, Ngọc Hoàng xuống hạ giới. Biết chuyện, ngài cho cô gái một điều ước. Nàng thưa: “Xin người biến cây nêu,  thành loài hoa có rễ bám sâu, thân thẳng, ngọn cao để thần nhìn thấy anh ấy, dải vải đỏ biến thành bông hoa để anh ấy nhận ra thần”. Thoả nguyện, cô gái gieo mình từ trên cao xuống.
          Nhìn những bông hoa đỏ nâng niu linh hồn người yêu, nước mắt thần Mưa rơi lã chã. Người ta gọi đó là hoa gạo, loài hoa đỏ rực như tình yêu nồng thắm.
            2. Tản mạn
          Hoa gạo, tháng Ba, loài hoa hào phóng sắc đỏ, “lực lưỡng” đến lạ kỳ. Có ai đã nói: hoa gạo,  loài hoa có cái tên như là sự khát khao mong muốn những hạt gạo mỗi khi giáp hạt “tháng Ba, ngày Tám”. 
          Hoa gạo bình dị, lặng lẽ  thắp đỏ một góc trời quê đã đi vào văn học, nghệ thuật với những sắc màu, những cung bậc khác nhau, “chong” một sắc buồn diệu vợi, một nỗi nhớ đong đầy.
          “Mùa xuân, cây gạo gọi đến bao nhiêu là chim ríu rít. Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ: hàng ngàn bông hoa là hàng ngàn ngọn lửa hồng tươi, hàng ngàn búp nõn là hàng ngàn ánh nến trong xanh, tất cả đều lóng lánh, lung linh trong nắng. Chào mào, sáo sậu, sáo đen,… đàn đàn lũ lũ bay đi bay về, lượn lên lượn xuống. Chúng nó gọi nhau, trò truyện, trêu ghẹo và tranh cãi nhau, ồn mà vui không thể tưởng được. Ngày hội mùa xuân đấy!” (Vũ Tú Nam)
           Với “Hoa gạo đỏ”, viết năm 1979, Ma Văn Kháng đã mô tả vẻ đẹp của những bông hoa gạo trên vùng rẻo cao Bát Xát tỉnh Lào Cai:
          “Khắp đất nước, có lẽ không ở đâu hoa có cung màu đẹp tuyệt như ở đây. Ở đây, trời xanh trong văn vắt, thanh lọc đến kỳ hết vẩn bụi và mắt người nhìn được vào tận cõi vô cùng. Ở đây, sau một mùa đông giá lạnh, xo ro, cây bung nở hết mình cái sức tích tụ bao tháng ngày. Suốt một rẻo biên giới, trên những nương lúa đã bỏ hóa, hoa gạo rừng rực cháy đỏ một vệt dài tít tắp...”.
            Hoa gạo đỏ gợi lên những ước mơ, hoài bão, khát khao của tuổi trẻ:
                             “Nhưng từ đáy nỗi buồn tôi thăm thẳm
                             Một cái gì như nhựa thắm trong cây
                             Một cái gì trắng xoá tựa mây bay
                             Là hoa gạo của lòng tôi chẳng tắt”.
                                      (Lưu Quang Vũ, Có những lúc)
          Với Lưu Quang Vũ, hoa gạo còn gợi về một kỷ niệm của một ngày chưa xa:
                             “Anh làm sao quên được những con đường
                             Lá vàng rơi trên cỏ
                             Nhớ vai em chập chờn hoa gạo đỏ”.
            Thơ viết về hoa gạo thì nhiều nhưng nhiều người hẳn khó quên “ Cho một ngày chị sinh” của Đoàn Thị Tảo viết năm 1965, khi ấy nhà thơ 20 tuổi. Những câu thơ viết tặng chị gái Đoàn Lê khi sinh đứa con gái đầu lòng:
                             “Thế là chị ơi !    
                             Rụng bông gạo đỏ
                              Ô hay, trời không nín gió !
                             Cho ngày chị sinh.
                             ***
                             Ngày chị sinh trời cho làm thơ,
                             Cho nết buồn vui bốn mùa trăn trở
                             Cho làm một câu hát cổ
                             Để người lý lơi.
                             ***
                             Vấn vương với sợi tơ trời !
                             Tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan”.
            Những câu thơ như cắt lòng, như một ám ảnh cuộc đời. Năm 1982, khi đang làm việc ở Phòng Kỹ thuật của Sở Giao thông Vận tải Hải Phòng, quê hương của chị, Đoàn Thị Tảo đã phải xin nghỉ việc để chăm sóc mẹ già ốm nằm liệt giường đến 13 năm trời.
          Mẹ mất, chị lại sang ở với hai con gái của chị Đoàn Lê tới 10 năm trời để thay chị trông nom các cháu. Hết nuôi mẹ đến chăm cháu. Ngoảnh đi ngoảnh lại, Đoàn Thị Tảo giật mình:
                              “Quỹ đời tiêu gần hết    
                              Chút thời gian còn loay hoay tổng kết
                              Thừa: Mồ hôi nước mắt
                              Thiếu: Hạnh phúc nụ cười”
          Về hạnh phúc riêng tư, có lần nhà thơ bảo: “Mình là người sinh ra để dành cho gia đình”. Ấy vậy mà gia đình riêng thì lại không dành cho chị. Chị nói:“Cái bi kịch lớn nhất cuộc đời tôi là tôi yêu một người đàn ông lớn tuổi đã có gia đình”. Đó là quãng thời gian đầy hạnh phúc lẫn khổ đau chị đã gửi vào những vần thơ đắng chát:                                        
                              “Cái người tôi gọi là chồng
                              Chẳng qua chút nghĩa đèo bòng mà thôi”.
            Trở lại với hình ảnh “Rụng bông gạo đỏ” cùng với:
                             “Vấn vương với sợi tơ trời
                             Tình riêng bỏ chợ tình người đa đoan”
          Một dự cảm không không mấy yên ả của một số phận, một đời người con gái. Cụ Nguyễn Du cũng đã nói về cái “tình người đa đoan”, “dâu bể” lắm mối, lắm chuyện lôi thôi, rắc rối đến mức khó lường của một thân phận trong “Truyện Kiều”:
                             "Cơ trời dâu bể đa đoan,
                             Một nhà để chị riêng oan một mình." 
 
           ...
            Hoa gạo chẳng kiêu sa chỉ dân dã, hiền lành. Hoa gạo còn có tên gọi là hoa Pơ - lang, hoa “ mộc miên”. 
          Mỗi mùa hoa gạo nở, lòng người lại bồi hồi, xốn xang:
                             "Lửa hạ nhen hồng lên dáng hoa
                             Đường thôn thắm đỏ sắc quê nhà
                             Em nhắn: đang mùa hoa gạo nở
                             Anh về ôn chuyện mộc miên xưa"
                                              (Võ Quê, Hoa gạo)
          Cũng là nỗi nhớ nhưng trong “Hoa gạo” của nhà thơ, nhà giáo Đặng Hiển lại là một cung bậc khác:
                             “Lẽ nào tôi có thể dửng dưng
                             Hoa gạo trên non sắp nở bừng
                             Nhớ những tháng ba ngày dạy học
                             Mùa thi hoa gạo cháy sau lưng”.
          Ngày lập hạ, 05/5/2016 (29 tháng Ba, Bính Thân) đã đến!  
          Hoa gạo, tháng Ba báo hè về!
          Chúc đại gia đình nhà giáo Nghĩa Hưng “được mùa” và có một kỳ nghỉ hè vui vẻ, rực lửa đam mê như ai đó đã viết:
                                    “Mỗi độ tháng ba về
                             Ai vãi lửa đam mê vào bầu trời cháy bỏng ?”
          Đêm về, lúc “buồn buồn” tâm trạng có thể nghe lại ca khúc “Chị tôi” của Trọng Đài, thơ Đoàn Thị Tảo.
          Nhưng xin chớ làm, đừng phải làm cái “bóng” của ai !

                                                                                  Ngày lập hạ. 05 tháng 5  năm 2016
                                                                                      Nguyễn Văn Thụy
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn