06:41 ICT Thứ tư, 19/09/2018

Danh mục chính

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 0


Hôm nayHôm nay : 539

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 46471

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5970066

Trang nhất » Tin Tức » Văn nghệ

SoGD

HOA VÀ “NGƯỜI TA LÀ HOA ĐẤT” - Phần VIII: Hoa Phượng

Thứ hai - 23/05/2016 16:05
PHẦN VIII : HOA PHƯỢNG


 
          1. Truyền thuyết
          Ngày xưa, xưa lắm, ở một vùng đất đồi kia, có một ông thầy dạy võ nổi tiếng về tài đánh kiếm. Vợ ông chết sớm, ông thương vợ, không lấy ai nữa nên ông không có con. Ông đi xin năm người con trai mồ côi ở trong vùng về làm con nuôi. Ngoài những giờ luyện võ, ông lại cho năm người đi học chữ, vì ông muốn năm người cùng giỏi võ, giỏi văn. 
          Tuổi năm người con xấp xỉ ngang nhau. Năm ấy, họ chỉ mới mười ba, mười bốn. Người nào học cũng khá và tài múa kiếm thì nổi tiếng khắp vùng. Ai cũng dễ nhận được họ vì ông sắm cho năm người năm bộ quần áo màu đỏ để mặc ra đường. Thương bố nuôi nên năm người con rất biết nhường nhịn nhau và yêu quý mọi người trong làng. Năm ấy trong nước có loạn. Giặc ngoài kéo vào. Nhà cháy, người chết. Tiếng kêu khóc và lòng oán giận cứ lan dần, lớn dần. Đâu cũng đồn tên tướng giặc có sức khỏe kỳ lạ. Chỉ cần đạp nhẹ một cái cũng làm bật gốc được một thân cây to. Hắn lại sử dụng một cây thương dài và nặng, đâm chết từng xâu người một cách dễ dàng. Mọi người còn đồn thêm rằng hắn sở dĩ khỏe như vậy là vì hắn thích ăn thịt sống và đặc biệt hơn nữa là chỉ thích ăn toàn xôi gấc chứ không thích ăn cơm, mỗi lần hắn ăn hàng chục cân thịt cùng với một nong xôi gấc lớn. Người thầy dạy võ ở vùng đất đồi nọ định xin vua đi đánh giặc thì ngã ra ốm. Tay chân ông bị co quắp cả lại. Cụ lang giỏi nhất vùng đến xem bệnh và chỉ biết là ông uống phải thuốc độc. Ai cũng nghi tên tướng giặc đã ngầm cho những kẻ chân tay của hắn đi tìm giết trước những người tài giỏi trong nước. Người thầy dạy võ vừa uống thuốc, vừa ngày đêm ra sức tập luyện để tay chân mình lại cử động được như xưa. Một buổi sáng, tên tướng giặc bất thình lình phóng ngựa, dẫn quân lính của hắn kéo ập vào làng. Hắn thấy ông thầy dạy võ đang lấy chân đạp vào một gốc cây sung to. Cây sung lúc đầu bị rung khe khẽ, rồi mỗi lúc rung một mạnh hơn. Sau đó, ông nhấc một cái cối đá to đưa lên, đưa xuống, vẻ còn mệt nhọc. Tên tướng giặc cười phá lên rồi xuống ngựa giơ chân đạp nhẹ vào thân cây sung. Thế là cây sung bị gãy ngang và ào ào đổ xuống. Hắn lại nhẹ nhàng đưa một tay tóm lấy cái cối đá ném vứt đi, như ta ném một hòn gạch con và cho rơi ùm xuống cái ao lớn gần đấy.
          Hắn gọi mấy tên quân đến trói chặt ông thầy dạy võ lại rồi bảo:
          -Tao nghe mày muốn đi đánh tao phải không? Bây giờ thì mạng mày nằm trong tay tao rồi! Muốn sống thì hãy giết một con bò tơ, lọc năm mươi cân thịt ngon nhất, nấu một nong xôi gấc rồi mang đến chỗ ta đóng quân ở trên ngọn đồi giữa làng. Phải đội trên đầu mà đi chứ không được gánh. Đi luôn một mạch, không được dừng lại hay đặt xuống nghỉ. Đội thịt đến trước! Đội xôi đến sau! 
          Nói xong hắn ra lệnh cởi trói cho ông. người thầy dạy võ giận tím ruột, tím gan nhưng chẳng nói gì. Lúc ấy năm người con đang đi vắng, họ phải đi học chữ xa làng và lại sắp đến mùa thi. Không ai dám rời cái bút cái nghiên. Nhưng vừa nghe tin giặc kéo đến làng, họ lập tức đeo gươm vào người mà xin thầy cho về. Về đến nhà, nghe bố kể chuyện lại, năm người con nổi giận muốn chạy đi tìm tên tướng giặc hung ác để giết ngay.
          Người bố liền khuyên:
          - Không được! Lúc nào quân lính của hắn cũng vây quanh, khó mà đến gần. Ngọn thương của hắn lại có thể đâm chết người từ rất xa. Các con cứ bình tĩnh, ta đã có cách khử nó! Người cha đi vay tiền mua một con bò tơ, mổ thịt rồi lọc lấy năm mươi cân thịt ngon nhất để vào một cái nia to. Ông lại đi vay ba gánh nếp trắng, đi xin ba chục quả gấc đỏ, nấu một chục nồi xôi thật dẻo. Ông đội nia thịt bò tơ đến trước. Chân ông còn đau, năm mươi cân thịt đội trên đầu không phải là nhẹ. Ông đội nia đi, mồ hôi vã ra đầy trán. Tên tướng giặc thấy ông đội thịt đến, mồm cứ nuốt nước bọt ừng ực. Hết nuốt nước bọt ừng ực, hắn lại khoái trá cười to. Còn người đội thịt thì bấm ruột chịu đựng và nghĩ thầm: "Cho mày cứ cười rồi mày sẽ biết..."
          Tên tướng giặc cười, nhận thịt xong, quát to lên và giục:
          - Còn nong xôi nữa, mày về đội đến đây ngay!
          Người thầy dạy võ lại về đội nong xôi đến. Nong xôi to và nặng hơn nia thịt nhiều. Nhưng xôi nấu ngon và nhìn đẹp quá. Ông đội nong xôi đi đến đâu, ở đó cứ thơm lừng. Mới đi được nửa đường, mồ hôi ông đã vã ra đầy mặt, đầy người. Đôi chân ông mỗi lúc một yếu, cứ run lẩy bẩy. Cái cổ cứ như muốn gãy gập lại. ông vẫn bặm môi, cắn răng và bắt đầu leo lên đồi. Tuy mệt lử nhưng đôi mắt ông sáng quắc và lòng ông rất vui. Ông tự nhủ: "Gắng lên! Chỉ cần một lúc nữa, một lúc nữa..." Tên tướng giặc ngồi trên cao theo dõi, vừa hả dạ, vừa lo lắng. Hắn nghĩ: "Thằng này không bị thuốc độc của ta thì khó mà trị được nó. Mà ngay bây giờ, hắn vẫn là một tay đáng sợ". Cái nong xôi gấc to lớn, thơm lừng vẫn lù lù tiến lên đồi. Mặt người đội xôi tái hẳn lại. Chỉ có đôi mắt. Đôi mắt vẫn sáng quắc. Nong xôi có lúc lảo đảo, ngả nghiêng, nhưng liền đó lại gượng lại, rồi nhích dần lên. Tên tướng giặc vội giật lấy thanh gươm của tên lính hầu rồi đứng phắt dậy, phóng gươm đi. Đường gươm sáng rực lên như một tia chớp, cắm vào bụng người thầy dạy võ làm ông chực gục xuống. Nhưng ông đã gượng đứng thẳng lên và đưa tay rút lưỡi gươm ra, phóng lại vào ngực kẻ thù. Tên giặc tránh được. 
          Bỗng từ trong nong xôi, năm người con nằm quây tròn được xôi phủ kín, đã vung kiếm nhảy ra và như năm làn chớp đâm phập cả vào ngực tên giặc ác. Tên tướng giặc không chống đỡ kịp, rú lên một tiếng rung cả ngọn đồi rồi ngã vật xuống. Thấy tướng đã chết, bọn lính giặc hoảng quá, kéo nhau chạy bán sống bán chết. Dẹp giặc xong, năm người con trai trở về ôm lấy xác người bố nuôi khóc vật vã mấy ngày liền. Cả làng cùng năm người con lo chuyện chôn cất rất chu đáo. Dân làng mỗi người một nắm đất đắp cho ngôi mộ ông thầy cao lên. Thương bố nuôi, năm người con lại trồng quanh khu mộ năm gốc cây con, một giống cây có lá đẹp như thêu và có nhiều bóng mát. Hằng năm, đến ngày giỗ bố, họ lại đem áo đỏ ra mặc. Họ nhớ tiếc người thầy dạy võ đã có công giết giặc cứu dân. Đến lúc năm người lần lượt chết đi thì năm cái cây họ trồng quanh khu mộ người bố cũng lần lượt ra hoa màu đỏ thắm, đúng vào ngày giỗ người thầy dạy võ. Hoa đỏ như muốn nói với mọi người rằng: tuy chết đi, nhưng năm người con vẫn yêu thương người bố nuôi và hằng năm đến mùa giỗ bố, họ lại mặc áo đỏ để tưởng nhớ người đã khuất. Hoa có năm cánh đỏ rực và nhìn cả cây hoa nở rộ, người ta thấy giống như một mâm xôi gấc. Cái mâm xôi ngày nào người bố đã giấu năm người con trong đó và đội đi giết giặc. Đó là cây hoa Phượng ngày nay. Mỗi năm, khi mùa Hè về, mùa thi đến, hoa Phượng lại nở đỏ đầy cây, đầy trời. Khi mùa Hè qua, trên khắp các cành cây, người ta lại thấy hiện ra những quả Phượng dài như những thanh gươm của năm người con trai ngày trước...
            2. Tản mạn
          “Tháng năm rợp trời hoa phượng đỏ”. Dưới nắng, hoa phượng rực rỡ in sắc thắm trên nền trời xanh biêng biếc. Phượng nở như đốm lửa đỏ hồng, e ấp núp sau những mắt lá xanh.
          Năm tháng đổi thay nhưng ký ức hoa phượng dường như chẳng thay đổi bao giờ. Phượng cứ cháy hết mình, gửi gắm nỗi lòng tuổi học trò vào nỗi nhớ khôn nguôi.
          “ Màu hoa phượng thắm như máu con tim” sẽ cùng ký ức đi đến trọn kiếp người.

      Nhà thơ Tế Hanh đã ca ngợi “Phượng”:

                   “Lưu ly chất ngọc đọng màu bông
                   Cành rực hừng theo trận gió nồng
                   Ơi phượng! Ngươi là cây đuốc sáng 
                   Đất đầy tin tưởng vọng lên không.
                   ...
                   Phung phí tình yêu quá mức thường
                   Sống thời hoàng tử, chết quân vương
                   Nguy nga cây nở bừng son thắm
                   Lộng lẫy hoa rơi sắc ngợp đường”.

          “Ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu gọi hoa phượng là “Hoa học trò”:
          “Mùa xuân, phượng ra lá. Lá xanh um, mát rượi, ngon lành như lá me non. Lá ban đầu xếp lại, còn e; dần dần xòe ra cho gió đưa đẩy. Lòng học trò phơi phới làm sao! Cậu chăm lo học hành, rồi lâu cũng vô tâm quên màu lá phượng. 
          ...
          Phượng cứ nở. Phượng cứ rơi. Bao giờ cũng có hoa phượng nở. Nghỉ hè đã đến. Học sinh sửa soạn về nhà. Nhà chưa về, cái vui gia đình đâu chửa thấy, chỉ thấy xa trường, rời bạn; buồn xiết bao! Những cuộc tình duyên giữa bạn bè, đến lúc rẽ chia, cũng rẽ chia dưới màu phượng; dù hữu tâm, dù vô tình, người nào cũng có sắc hoa phượng nằm ở trong hồn. Phượng xui ta nhớ cái gì đâu. Nhớ người sắp xa, còn đứng trước mặt....Nhớ một bãi biển sóng chấp chóa...”. 
          Trong “Phượng mười năm”, nhà thơ viết:     
                   “Phượng trong sáng nảy hồng trên một cõi
                    Như muôn đàn cùng gảy dưới mây cao
                    Ánh sáng trùm trong không gian vòi vọi 
                   Tấc lòng hè kiều diễm hoá ly tao 
                    ***     
                   Biển bướm đỏ rào rào trong gió mát 
                    Lá non xanh như suối chảy trên trời
                    Phượng, phượng hỡi, cớ sao mà man mác
                    Mỗi mùa hè run rẩy dưới triều môi
                   ***
                   Xanh đã ngủ ở dưới trời yên tĩnh;
                   Đỏ còn ngân trong tiếng nói dịu dàng;
                   Ta mơ màng thấy gió đang sóng sánh,
                   Trống sân trường văng vẳng đánh - mười năm”.
          Mười năm đèn sách của cái thời học trò phổ thông xưa, hằng năm, phượng cứ “đến hẹn lại lên” nở rực hồng một cõi, khiến lòng người xao xuyến, bồi hồi về một thời  áo trắng:
                    “Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong,
                   Hôm xưa em đến, mắt như lòng.
                   Nở bừng ánh sáng. Em đi đến,
                   Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng”.
                                      (Huy Cận, Áo trắng)
          Nhiều người yêu thích những câu thơ cuối bài trong “Phượng mười năm” của Xuân Diệu:
                   “ Mười năm phượng, huy hoàng vẫn phượng
                   Áo trắng trong,  ngày tháng phất phơ soi
                   Ta cùng mình như cành cây quấn riết
                   Vương vấn lòng nhau ràng rịt biết bao đời
                   ***
                   Phượng mười năm... hiu hắt gió mười năm
                   Yêu mười năm...nhớ muôn thuở... mười năm...”
          Phượng cứ nở, “huy hoàng vẫn phượng”! Phượng cứ rơi, “nhớ muôn thuở”, chơi vơi!
          Sớm mai này, chợt nghe tiếng ve ngân, chợt thảng thốt nhận ra phượng đã nở thắp đỏ một khung trời đầu hạ, vỡ òa ký ức về một “chút tình đầu” “thầm lặng”, “vu vơ”, “ngọng nghịu” rất đáng yêu của ai đó:
                    Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng
                    Em chở mùa hè của tôi đi đâu ?
                    Chùm phượng vỹ em cầm là tuổi tôi mười tám
                    Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu
                   ...
                   Mối tình đầu của tôi có gì ? 
                   Chỉ một cây đàn nhỏ 
                   Rất vu vơ nhờ bài hát nói giùm 
                   Ai cũng cũng hiểu – chỉ một người không hiểu 
                   Nên có một gã khờ ngọng nghịu mãi… thành câm.
                    ...
                    Những chiếc giỏ xe trưa nay chở đầy hoa phượng
                    Em hái mùa hè trên cây
                    Chở kỷ niệm về nhà
                    Em chở mùa hè đi qua còn tôi đứng lại
                    Nhớ ngẩn người tà áo lụa nào xa”.
                              (Đỗ Trung Quân, Chút tình đầu)
          Hè đến thật rồi! Ta lại gặp những “sắc phượng”, “hồn phượng” trong “hồn người”. Bên cạnh những Xuân Diệu, Tế Hanh, Đỗ Trung Quân... là những trang văn, những vần thơ tuổi học trò:
          “Phượng là bạn của mọi người vì ai cũng có thời cắp sách đến trường, từng nhìn phượng nở mà xao xuyến lòng, từng nhặt cánh hoa ép vào trang lưu bút trao cho bạn bè. Học trò thân thiết với phượng như thân với bạn bè cùng lớp”.
                                                (Bùi Văn Phú, Mùa hoa phượng nở)
          “Còn gì nên thơ hơn khi ta nhớ về ngôi trường yêu dấu với sắc đỏ rưng rưng của từng chùm hoa phượng trên sân trường. Những hình ảnh rực rỡ sẽ đọng lại mãi trong ta như một thời đẹp nhất tuổi thanh xuân. Và có thể lúc nào đó nghiêng ngả giữa dòng đời, cái sắc đỏ tuổi học trò kia biết đâu có thể đem lại chút ấm áp trong lòng”.
                                                (Nguyễn Ngọc Tuyết, Phượng thắm trường xưa)
                    “Tháng năm trở về thắp lửa
                    Hoa phượng đỏ một khoảng trời
                   Nắm tay nhau thêm lần nữa
                   Mai này mỗi đứa một nơi...”
                             (Giang Hạ - Tháng năm)
                   "Có mùa phượng vỹ không tên thành hò hẹn
                   Đỏ cái nhìn vương vấn lúc chia tay
                   Cô bạn gái ngại ngùng không dám khóc
                   Nghèn nghẹn lời trong đôi mắt cay cay."
                             (Trịnh Trung Hiếu, Chia tay mùa hoa phượng )
          Họ cứ chân thật, mộc mạc, nhẹ nhàng trải lòng mình lên trang giấy. Yêu lắm những trang lưu bút, những dòng thơ “xốn xang”, “vơi đầy nỗi nhớ niềm thương” của tuổi học trò! Càng yêu hơn “hoa học trò” – “hoa phượng”!

                                                                        Nghĩa Lợi, ngày 15 tháng  5 năm 2016
                                                                                      Nguyễn Văn Thụy
 
Tổng số điểm của bài viết là: 26 trong 6 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn