00:54 ICT Chủ nhật, 25/02/2018

Danh mục chính

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 0


Hôm nayHôm nay : 203

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 76992

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5405424

Trang nhất » Tin Tức » Văn nghệ

SoGD

XUÂN MẬU TUẤT, TẢN MẠN VỀ CHÓ

Chủ nhật - 14/01/2018 22:01
XUÂN MẬU TUẤT, TẢN MẠN VỀ CHÓ

 
I. CHÓ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ TÂM LINH
          Quan niệm của người Việt xưa, chó là con vật trung thành và mang lại nhiều may mắn. Chó bình thường chỉ coi được phần dương, muốn canh giữ phần âm thì phải ''nuôi'' Chó Đá (Thạch Cẩu).  Người Việt thường chôn chó đá trước cổng như một linh vật với ý nghĩa cầu phúc, trừ tà hoặc đặt chó đá trên bệ thờ và coi như một bậc thần linh. Chó đá trong nhà thường nhỏ, mang dáng vẻ hiền lành, không to lớn như chó đá ở đình, đền, phủ.
          Trong “Lịch triều hiến chương loại chí”, ở phần Dư địa chí, khi chép về trấn Thanh Hóa, Phan Huy Chú viết: " Cửa Nghi Môn ở điện Lam Kinh có hai con chó đá rất thiêng". Trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương”, học giả Đào Duy Anh từng nhắc: "Xưa kia, cửa ngõ thường không làm đúng chính giữa nhà và sân để cho người ngoài đừng nhìn thẳng vào trung tâm nhà. Người ta cũng thường kiêng không để cho có con đường đâm thẳng vào nhà, hay là có đền chùa ở trước nhà. Nếu bất đắc dĩ không tránh được những điều kỵ ấy thì người ta chôn ở trước nhà một con chó đá hay là treo một cái gương ở trên cửa chính để yểm tà khí".
          Giáo sư Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hoá tín ngưỡng Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, cho biết tục thờ chó đá đã có từ lâu. Thời vua Lý Công Uẩn đã cho dân lập đền thờ Cẩu Nhi ở hồ Trúc Bạch (Tây Hồ, Hà Nội). Đây là phong tục đẹp trong tín ngưỡng của người Việt, nên được gìn giữ và mở rộng.


 
 
          Theo Giáo sư, chó đá, nghê đá là những con vật gần gũi với tâm linh người Việt nên được dùng để thay thế sư tử ngoại lai trong một số đình chùa hiện nay. "Chó canh cửa là điều hợp với thực tế cuộc sống, cũng là biểu tượng của điềm lành. Người xưa quan niệm chó đến nhà là tốt nên nhiều nơi thờ cúng không chỉ trước đây mà còn ở giai đoạn cận, hiện đại. Sư tử chủ yếu được người Trung Quốc dùng để canh lăng mộ. Mang sư tử về trước cơ quan, đình chùa là việc học đòi mà không hiểu gì về văn hóa".
          Trong nét văn hóa và tâm linh, một số dân tộc coi con chó là động vật thân thiết gắn bó từ rất lâu đời với người chủ nói riêng và con người nói chung, những đức tính của chó được tôn vinh như trung thành, thông minh, quan tâm đến chủ. Nó là bạn gần gũi của con người.
          Trong quan niệm của người Việt, chó là con vật có thể đem đến những điều may mắn, mang đến thuận lợi và nhiều niềm vui :“Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang”.
          Ở rất nhiều nơi trên thế giới, con chó được trân trọng và nâng niu. Các chòm sao được đặt theo tên chó gồm: Tiểu Khuyển, Đại Khuyển, Lạp Khuyển...
          Chó có nhiều loại. Gọi là chó Tây, chó Nhật, chó Mỹ để phân biệt với chó Ta. Khi có nhiều loại chó Á - Âu – Mỹ như vậy thì tất nhiên có thêm một loại chó mới là chó lai. Chó cũng được người nuôi đặt tên. Tên chó, tùy loài mà đặt. Chó ngoại quốc hay chó lai, lẽ dĩ nhiên có tên ngoại quốc hoặc nửa ngoại quốc nửa ta: Lulu, Lily, Lucky, Milo, Milu, Nik, Kiki, Ca Cao, Tô Tô (...). Còn chó Ta tùy theo sắc lông mà đặt tên nôm na: Vàng, Mực, Vá, Vện, Bạch, Đốm (…).
          Mặt khác, ở một khía cạnh ngược lại, chó cũng là đối tượng bị coi thường, khinh bỉ. Chó được xem như một con vật bẩn thỉu, ngu dốt. Người ta hay thóa mạ nhau, ám chỉ nhau bằng những câu: đồ chó cắn trộm, đồ chó cái, đồ chó đẻ, đồ chó săn, đồ chó má, đồ chó chết,  đồ chó chui gầm chạn, ngu như chó,...
          Nhà thơ đất Vị Hoàng, Trần Tế Xương vì thi hỏng mãi đến khoa Quý Mão (1903), ông đổi chữ lót, lấy là Trần Cao Xương, nhưng hỏng  vẫn hoàn hỏng:
                             “ Tế đổi làm Cao mà chó thế
                             Kiện trông ra Tiệp hỡi trời ơi!”
          Truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao có sự liên tưởng chua chát, tủi nhục về một thân phận, một kiếp chó với một kiếp người: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn”. 
 
II. CHÓ TRONG ẨM THỰC NGƯỜI VIỆT
          Ở  Việt Nam, nhất là miền Bắc, thịt chó được một bộ phận dân cư đặc biệt ưa thích. Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, cội nguồn ăn thịt chó bắt đầu từ lễ hiến tế chó trong tín ngưỡng dân gian. Người ăn đầu tiên là thầy cúng, thầy phù thủy mà cũng chỉ ăn lén, ăn vào lúc tối trời, đêm hôm. Do mặc cảm tội lỗi, xưa nay chẳng ai nói toạc ra là ăn thịt chó. Do kiêng kỵ nên người ta nói chệch là ăn thịt cầy và người ta tiếp tục nói lái  thành “cờ tây” (“ cầy tơ”);  thành “mộc tồn” (“mộc” là cây, “tồn” là còn”, "cây còn" là "con cầy").
          Quan niệm người Việt mê tín dị đoan từ trước đến nay vẫn cho rằng ăn thịt chó đầu năm, đầu tháng sẽ không tốt, không gặp may mắn trong cả năm, cả tháng. Nhưng ăn thịt chó vào cuối năm, cuối tháng hoặc sau khi gặp một chuyện không hay thì lại là xua đuổi cái "vận đen" đi.
          Đối với một số nền văn hóa, trong đó có Việt Nam, thịt chó được coi là một phần của văn hóa ẩm thực.
          Thịt chó phải ngon đến mức nào thì mới đi vào tục ngữ: 
          “Nhất bạch, nhì vàng, tam khoang, tứ đốm”.
          Thành ca dao:
                                                 “Sống ở trên đời ăn miếng dồi chó
                                                Chết xuống âm phủ biết có hay không ?”
                                                “Đi tu, Phật bắt ăn chay
                                          Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không” 
          Thành truyện cười dân gian. Truyện kể rằng: 
          “ Sư  cụ xơi thịt chó vụng ở trong phòng. Chú tiểu biết, hỏi:
          - Bạch cụ, cụ xơi gì trong ấy ạ?
          Sư cụ đáp:
          - Ta ăn đậu phụ.
          Lúc ấy, có tiếng chó sủa ầm ĩ ngoài cổng chùa. Sư cụ hỏi: 
          - Cái gì ngoài cổng thế ?
          Chú tiểu đáp:
          - Bạch cụ! Đậu phụ làng cắn đậu phụ chùa đấy ạ!”
         
          Trong "Miếng ngon Hà Nội", miếng nào Vũ Bằng viết, đọc cũng phát thèm, nhưng lạ nhất, xao xuyến nhất, có lẽ là khi viết về thịt chó:
          “Ðã định không nói, nhưng không nói không chịu được. Ờ mà nếu ca tụng thịt cầy mà mang tiếng là thiếu văn minh thì mình cũng đành chịu cái tiếng thiếu văn minh vậy, chớ nói đến miếng ngon Hà Nội mà không nói đến thịt cầy, người ta quả là thấy thiếu thốn rất nhiều. Chỉ thiếu có một người, vũ trụ bao la hiu quạnh... huống chi là thiếu thịt cầy thì còn vui sống làm sao?”.
          Nhà văn còn thăng hoa cảm xúc:
          “Chẳng biết cha ông mình trong một phút xuất thần nào đã nghĩ ra món nhựa mận".
          Lại nữa, cũng theo Vũ Bằng, ăn thịt chó là phải ăn chó ta: “Theo các chuyên viên ăn thịt chó, sắc lông ảnh hưởng tới mùi vị của thịt rất nhiều. Cái giống chó "bẹc-giê", "pê-ki-noa", cái giống chó "bát-sê" cũng như giống "phốc", nói tóm lại tất cả các giống chó Tây phương, cấm có ăn thịt được.
          Thịt cứ dai như chão rách, mùi hôi quá, ăn không ra cái "thớ" gì. Chó ăn, phải chính cống là giống chó ta, không được lai căng một tý một ly ông cụ”.
          Dẫu vẫn biết rằng thịt chó đã từng một thời chinh phục cái lưỡi của một bộ phận người Việt nhưng phải thưởng thức kỹ bài tùy bút độc đáo “Thịt cầy” của Vũ Bằng mới được nghe đầy đủ các cung bậc cảm xúc cùng với lý luận hùng hồn, bênh vực chủ trương "hạ cờ tây" của ông. 
          Ðọc xong câu kết khảng khái của bài tùy bút: "Nước ta còn, thịt chó còn  mà văn hóa ẩm thực của ta mai sau hay, dở là ở điểm có biết duy trì thịt chó hay không vậy”, chợt thấy một cái gì đó vừa “độc”, vừa “lạ”, vừa “băn khoăn”, pha một chút bâng khuâng! 
          Trong truyện ngắn “Trẻ con không được ăn thịt chó”, Nam Cao diễn tả tâm trạng của một ông bố:
          “Chao ôi! Giá hắn không bận nghĩ đến rượu và thịt chó! Giá hắn không khổ sở vì một cái dạ dày ưa đòi hỏi thì hắn đã sung sướng lắm. Nhưng hắn lại thèm rượu và thịt chó mà không được uống rượu, ăn thịt chó. Bởi vậy hắn cho là đời thật đáng buồn. Kiếp người nản lắm. Trời thì cay nghiệt như một bà già thiếu ăn ngay từ lúc còn thơ”.
          Và đây là cái cảnh tội nghiệp của người mẹ và lũ con nhỏ:
          “Thấy lũ con đứa nào cũng nhăn nhăn, nhó nhó, người mẹ thương đứt ruột. Thị biết rằng chúng đói. Khi người ta đã đói mà lại ngửi thấy mùi thịt chó, thì bụng càng đói thêm. Thế mà bữa rượu của người bố với ba ông khách cứ kéo dài mãi. Nghĩ mà bực quá! Cái thể không chết được, chứ giá chết được thì thị chỉ thắt cổ mà chết đi cho rồi...”.
          Nhà văn, nhà báo Đặng Hồng Nam, Tổng Biên tập Tạp chí Văn nhân của Hội văn học nghệ thuật Nam Định có cảm nhận khá “đặc biệt” (theo tôi, hình như có cả một  chút “ cực đoan” trong ấy) khi viết về món ăn “khoái khẩu” này:
          “Nhiều anh có tiền mà ăn uống ngu tệ. Thịt rừng nướng lại đi chấm với nước mắm. Ăn thịt chó lại kiêng ăn mắm tôm. Vào hàng phở lại đòi chủ hàng cho xin ít xì dầu. Ăn tiết canh thì dở bia Heineken ra uống….
          Đã thịt chó là phải mắm tôm. Nếu anh đã không ưa được mắm tôm thì tốt hơn hết đừng ăn thịt chó vì như thế là phí mất thịt chó của người ta đi.
          Không nói đến thì thôi, nói đến thịt chó là đã thấy thèm, nếu nội trong ngày không cho vào mồm lấy một miếng thì bứt rứt không yên. Ấy thế nhưng đến khi ăn miếng thịt chó mà không có mắm tôm thì chẳng khác nào ta đang dỏng tai lên nghe một nghệ sĩ tài ba đang mở phím so dây, hứa hẹn một bản nhạc tuyệt hay, dây đàn vừa so xong đã đứt phựt một cái. Thịt chó mà không có mắm tôm thì cũng giống như Thuý Kiều không có Kim Trọng. À không, Thuý Kiều không có Kim Trọng thì chưa nguy bằng Kim Trọng không có Thuý Kiều. Ta phải ví thế này, thịt chó mà chấm với muối chẳng hạn, thì cũng buồn như Kim Trọng lấy Thuý Vân vậy”.    
III. PHIẾM ĐÀM
          1. Chó là loài vật tinh khôn, trung thành, tình nghĩa
          “Tiếng gọi nơi hoang dã”  là một tiểu thuyết của nhà văn  Mỹ, Jack London. Cốt truyện kể về một con chó tên là Buck đã được thuần hóa, cưng chiều. Nhưng một loạt các sự kiện xảy ra khi Buck bị bắt khỏi trang trại để trở thành chó kéo xe ở khu vực Alaska lạnh giá, trong giai đoạn mọi người đổ xô đi tìm vàng thế kỷ XIX. Thiên nhiên nguyên thủy đã đánh thức bản năng của Buck. Buck trở lại cuộc sống hoang dã. Buck trở về rừng và sống chung với lũ sói, về với  “Tiếng gọi nơi hoang dã”.
          Jack London đã lấy tình thương để tả loài vật. Ông đã miêu tả sống động, hấp dẫn hình ảnh con chó mang tình người, sống tình nghĩa, thủy chung như con người. Bằng nghệ thuật tinh tế, biểu cảm trong miêu tả loài vật, Jack London đã cho chúng ta thấy tình cảm yêu thương sâu sắc của ông đối với loài vật.
          Tác phẩm “Tiếng gọi nơi hoang dã” được xuất bản lần đầu năm 1903, là tiểu thuyết được nhiều người đọc nhất và được xem là tác phẩm hay nhất của Jack London. 
          Ở Việt Nam, năm 1943, Nam Cao viết “Lão Hạc”. Tình cảm của lão Hạc với "cậu Vàng" được tác giả thể hiện thật cảm động. Lão gọi nó là "cậu Vàng" như “một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự". Lão bắt rận, cho nó ăn cơm trong một cái bát như nhà giàu. Lão ăn gì cũng không quên phần nó, gắp cho nó một miếng. Lão ăn bao nhiêu, nó cũng ăn như thế, thậm chí còn hơn phần lão. Lão coi nó như một người bạn. Ngày ngày, lão tâm sự, trò chuyện với nó như nó cũng là con người.
          Tình thế cùng quẫn, lão phải bán nó trong dằn vặt, đau khổ: "Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc...".
          Lão Hạc đau đớn vì đã trót lừa một con chó: “Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ nằm im như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi, như muốn bảo tôi rằng: A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”.
           Chó là con vật trung thành với chủ nhà, dù ăn uống thiếu thốn nhưng nó không bao giờ bỏ chủ mà đi:
                                       “Con không chê cha mẹ khó,
                                         Chó không chê chủ nghèo”.
          2. Chó có phải món ăn truyền thống của người Việt ?
          Cuối thế kỷ XX, học giả Hoàng Xuân Hãn đã phát hiện một tập sách ghi các món ăn xưa của người Việt, được viết bằng chữ Nôm, ghi chép những món ăn cách đây hơn 250 năm cùng với cách làm. Sách ấy mang tên “Thực vật tất khảo tường ký lục”, nghĩa là “Tập ghi rõ ràng những phép phải khảo khi làm các món ăn”. Các điều ghi lại trong sách này vào khoảng đầu đời vua Cảnh Hưng, nhà Lê (1744). Nội dung sách cổ này không thấy đề cập đến món thịt chó! Như vậy, cũng có thể nói rằng:Thịt chó không phải là món ăn truyền thống của người Việt.
          Tại nhiều quốc gia phương Tây và các quốc gia Hội giáo việc giết chó làm thịt và ăn thịt chó được coi là tàn bạo, kinh tởm và bị cấm.
          Lễ hội thịt chó nổi tiếng nhất Trung Quốc ở Ngọc Lâm, tỉnh Quảng Tây, diễn ra trong ngày Hạ chí (ngày 21  tháng 6) hằng năm, đã gặp quá nhiều chỉ trích từ những người bảo vệ động vật từ khắp nơi trên thế giới nên không khí lễ hội ngày một giảm sút, thậm chí có phần ảm đạm.
          Sự phản đối của các nhóm bảo vệ động vật và giới trẻ Hàn Quốc ngày càng yêu thương thú nuôi là nguyên nhân khiến món thịt chó trở nên "thất sủng", không còn là món ăn “khoái khẩu” tại Hàn Quốc.
            Với người Việt mình, đúng là đã có một thời “thịt chó được coi là một phần của văn hóa ẩm thực” như đã nói đến ở trên. Những người ưa thích thịt chó có cái lý của họ: Thịt chó cũng như các loại thịt khác, không thể ép người ta buộc phải lựa chọn.
          Ngược lại, những người không thích thịt chó, không ăn thịt chó thì lại cho rằng:
Ăn thịt chó chẳng phải là tinh hoa văn hóa ẩm thực gì ghê gớm cả, chẳng qua chỉ là thói quen ăn uống của một số người, một bộ phận người Việt mà thôi. Trong số những người ưa thích  và đặc biệt ưa thích món ăn này, ngày nay cũng có không ít người đã và đang dần dần “đánh mất” thói quen này.
          Tóm lại, quan niệm về ăn uống, về sở thích và thói quen ăn uống là những vấn đề không những không đồng nhất mà thậm chí còn rất khác biệt. Hãy tôn trọng mọi sự khác biệt để “hòa nhập mà không hòa tan”! Hãy tin rằng mọi thói quen ăn uống sẽ dần dần thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn, khoa học hơn để cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn!

          3. Thay cho lời kết

          Trong Thập Nhị Địa Chi, “Chó” ở vị trí thứ 11 với chi Tuất. Tôi sinh năm 1958, tuổi Mậu Tuất. Vậy là cũng đã sắp tròn 60 năm cuộc đời rồi! Xin được mượn một câu “than thân”, “trách phận” của một người tuổi Thân (mặc dù câu này còn nhiều dị bản) làm nguồn “động viên”, “khích lệ” mình:

                                                “Người ta tuổi Tuất, tuổi Mùi,

                                          Còn tôi, con Khỉ, ngậm ngùi tuổi Thân”.

          Năm 2018 đã đến, xuân Mậu Tuất đang đến rất gần. Mọi người đã và đang đầy ắp niềm tin và tràn trề hy vọng vào năm mới 2018 - Xuân Mậu Tuất.

          Kính chúc các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo và bạn đọc yêu quý một năm mới an khang, thịnh vượng!

          Trân trọng!

                                                                                                                                                                                                                  Xuân Mậu Tuất  
                     

 Nguyễn Văn Thụy


Tổng số điểm của bài viết là: 18 trong 4 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thành viên

Giới thiệu

Giới thiệu về giáo dục huyện Nghĩa Hưng

QUY ĐỊNH chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Nghĩa Hưng (theo Quyết định số 2056/2013/QĐ-UBND, ngày 28/5/2013 của UBND huyện Nghĩa Hưng)           Điều 1. Vị trí và chức năng     ...